Mai Nở Bốn Mùa
Cảm hứng thơ Thày Như Nhiên-Thích TánhTuệ
Xuân từ vô thủy vô chung
Vần xoay vũ trụ chập chùng biển khơi
Chùa trên đỉnh núi chơi vơi
Bốn mùa tươi tốt mỉm cười hoa mai
( nguoibinhtho.blogspot.com ) Tôi Lu Hà, trong các sáng tác của tôi chỉ có một bút danh duy nhất bất di bất dịch là Lu Hà. Khi viết tay, đánh máy hoặc in ấn đều rõ ràng Lu truớc Hà sau. Thiết tưởng cũng chẳng cần biết tên họ thật của tôi trong giấy khai sinh làm gì? Chỉ vài bức ảnh của tôi đăng rải rác trên mạng Internet cũng đủ cho mọi người biết rõ Lu Hà là ai? Thơ văn của tôi phần lớn đều ghi rõ ràng ngày tháng năm sáng tác.
Mai Nở Bốn Mùa
Cảm hứng thơ Thày Như Nhiên-Thích TánhTuệ
Xuân từ vô thủy vô chung
Vần xoay vũ trụ chập chùng biển khơi
Chùa trên đỉnh núi chơi vơi
Bốn mùa tươi tốt mỉm cười hoa mai
Tâm Với Đức
tri ân nữ sĩ Trần Hiền Châu: Chữ Tâm
Tâm với đức tuy hai là một
Một chữ tâm là tốt muôn đời
Đời người giông tố xa khơi
Khơi dòng bể khổ trăm nơi nẻo trần
Hang Sáng Ở Thung Lau
Thung Lau một giải kià hang Sáng
Nhũ đá phong trần đẹp sáng choang
Sừng sững con voi thời tối cổ
Tai to mình lớn dát kim vàng
Ai Qua Cửa Phật
Tạo hóa ông ơi! thật tuyệt vời
Đường lên Yên Tử vực chơi vơi
Cản ngay lũ qủy từ phương Bắc?
Đức Phật từ bi ở cổng trời...
Vân Tiêu Độ Trì
Mây ửng trời đông khách đến chùa
Vân Tiêu heo hút dưới sương mờ
Trường thành sừng sững chân Yên Tử
Một nắng hai sương gội gió mưa
Tiền Thái Bình Hưng Bảo
Thái Bình niên hiệu Đại Cồ Việt
Một cõi giang san thế vững vàng
Muôn thuở sáng soi nền độc lập
Đàn hạc hương lân khắp xóm làng
Thần Y Nguyễn Minh Không
Cần mẫn thiền sư đi hái thuốc
Lòng từ cảm ngộ chúng bi ai
Ngao du hang động tình mây núi
Đại đức linh quang sáng Phật đài
Ông Rồng Xanh
Đồng bào dân tộc gọi rồng xanh
Ông lớn treo ngang vắt vèo cành
Đêm đến thường hay bên tượng Phật
Lim dim cho đến tận tàn canh
Nhớ Nàng Nguyệt Nga
Vằng vặc trăng thu soi lịch sử
Nguyệt Nga muôn thuở với non sông
Cùng anh khởi nghĩa vì dân nước
Sống chết màng chi một mảnh hồng
Mộ Cổ Dâng Hương
Mộ cổ thiền sư rừng trúc lâm
Ở đây hiu hắt cảnh âm thầm
Hạt sương thánh thót cây sung cổ
Chim chóc thường xuyên ghé tới thăm
Kinh Thành Hoang Phế
Đinh- Lê triều đại ở Hoa Lư
Cổ động sương rơi cả bốn muà
Xào xạc chim muông đàn cá nhảy
Bồi hồi thao thức hạt mưa sa
Hoa Sơn Tự
Hoa Sơn chuà tự đất Hoa Lư
Tầng đá rêu phong phủ nhạt nhoà
Nhũ động ngàn xưa màu cổ đại
Mây vàng bảng lảng gió mưa hoà
Giọt Lệ Ti Bét
tặng Thày Thích Như Điển và Thày Thích Nguyên Tạng
Con biết phái đoàn tới Mỹ Châu
Hoành Dương Phật Pháp khắp năm Châu
Từ bi trí dũng cho thiên hạ
Đức Phật tiền thân Tất Đạt Đa
Đền Phủ Đột
Tả hữu Thanh Trù đền Phủ Đột
Trốn vào hang núi với Đinh Toàn
Nơi đây hương khói ghi công trạng
Giọt lệ oán hờn mãi chưá chan
Chuông Vọng Hồ Đồng Chương
Đồng Chương giáp giới liền ba xã
Phú Lộc Phú Long Kỳ Phú hồ
Có thác Ba Tua đền Liễu Hạnh
Nho Quan tha thiết bóng ai chờ
Cha Con Như Núi Cùng Non
Mẹ kể con nghe chan chưá tình
Nước non sông núi cuả quê mình
Cha thấp con cao nhà có phúc
Cha cao con thấp chẳng công bình
Ai Qua Cưả Phật
Tạo hoá ông ơi! thật tuyệt vời
Đường lên Yên Tử vực chơi vơi
Cản sao lũ quỷ từ phương Bắc?
Đức Phật từ bi ở cổng trời
Ai Qua Cưả Phật
Tạo hoá ông ơi! thật tuyệt vời
Đường lên Yên Tử vực chơi vơi
Cản sao lũ quỷ từ phương Bắc?
Đức Phật từ bi ở cổng trời
Tính Thiện Tâm Thành
chuyển thể thơ Trúc Mai Linh
Nghe sóng dội ba đào lảo đảo
Trách tình người bạc bẽo như vôi
Mấy phen hỏi lại ông trời
Gieo chi cay nghiệt cho đời trái ngang
Tiếng Búa Trong Đêm (1)
Kính dâng Giác Linh HT Thích Từ Mẫn
Trong mơ đinh đóng rã rời
Con nghe tiếng búa vinh quy cuộc đời
Âm dương hai ngả xa vời
Thầy đi về cõi hết rồi tử sinh
Tết Này Con Vẫn Chưa Về
Hàng năm chuà đón mừng xuân
Mà con vẫn cứ lần khân bộn bề
Phải chăng duyên nghiệp vụng về
Nên chưa dặm nẻo sơn khê tỏ lời
Sáng Nở Tối Tàn
cảm tác thơ Phạm Minh Tuân: Ngó Đời
Vưà hé nhụy khóc cười lanh lảnh
Giọt nắng vàng lấp lánh mù sương
Cuộc vui ngắn sợi tơ hồng
Nhân gian khép vội tiếng chuông não nề...
Ngày Phật Đản
Tiếng vọng cưả từ bi
Hơn hai ngàn năm trước
Đường trí tuệ hôm nay
Biết ơn ngài đã bước
Mẹ Ơi!
Kính tặng Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ
Trải bao mưa dập gió vùi
Bọt bèo trôi nổi luân hồi đắng cay
Thuyền đời vượt sóng trần ai
Qua cơn giận dữ thương người trần gian
Hồi Chuông Đầu Xuân
chuyển thể thơ tám chữ cuả Hoa Mai và Trí Giải
Xuân còn mất theo dòng luân chuyển
Xuân lại về rón rén cành mai
Vô thường tan biến từng giây
Trăng tròn rồi khuyết vơi đầy nỉ non
Đêm Mưa Hải Ngoại
kính bái giác linh Thày Thích Từ Mãn
Đêm mưa bừng tỉnh giấc mơ
Ngậm ngùi con viết bài thơ tiễn Thày
Âm dương cách biệt xa vời
Thày về Tây Trúc biển trời mênh mông
Cổ Mộc Giưã Đời
tặng nhà văn Trần Kiêm Đoàn
Cổ mộc ngàn năm giưã nuí rừng
Nơi đầu ngọn sóng nước sông hương
Chênh vênh mỏn đá kỳ quan aỉ
Thoang thoảng mùi huơng của bạch tùng
Chắp Tay Cùng Khấn
Xa nhà mây quện khói bay
Đàn chim nhớ tổ về đây tỏ bầy
Giốc bầu tâm sự vơi đầy
Cuộc đời thứ lữ đắng cay ngậm ngùi
An Bình Tự Do
cảm tác thơ Hoa Mai: Đêm Giao Thừa
Nghe vũ trụ chuyển mình hoàn vũ
Đêm giao thừa sóng vỗ diệu âm
Điệu ru lắng đọng chân tâm
Khúc ca thế giới thăng trầm nỉ non...!
Ngày xưa chuyện kể trạng nguyên Mạc đĩnh Chi đi sứ Tàu có thấy một câu đối trên miệng giếng: "Ngân bình kiên thượng tị " nghĩa là: " Bình bạc mũi trên vai "
Xuất xứ câu đối là của một cô gái bán hàng nước thách chàng nho sinh, nếu đối được sẽ chịu làm ái thê. Nhưng chàng không đối được mới nhảy xuống giếng tự tử vì xấu hổ.
Lu Hà Và Hà Sĩ Phu – Câu đối Mừng Xuân Quý Tỵ
Câu đối 1:
* RẮN độc cuốn vòng hai số Tám, chặn lối nhân quyền!
* RỒNG thiêng bay tạc một chữ Đồng, phá vòng nô lệ! [1]
[1] Kính tặng Lời kêu gọi thực thi Quyền Con người theo Hiến pháp tại Việt Nam với ngót 4 ngàn chữ ký, yêu cầu Quốc hội Việt `Nam hủy bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự về “tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”
Hà Sĩ Phu Và Lu Hà ( HSP – LH )
Ngày Tết là dịp cùng nhau nhìn lại một năm. Câu đối xin ghi lại một vài ấn tượng khó quên trong năm Giáp Ngọ vừa qua. Ấn tượng thì nhiều nhưng chỉ bày ra hầu bà con đúng 16 câu, bởi con số 16 tự nó cũng là một ấn tượng thật khó quên đối với người dân nước Việt hôm nay. Xin cảm ơn các tư liệu đã bày sẵn ra ngồn ngộn trên các trang mạng, kẻ vụng dại này chỉ lượm ra vài nét để mua vui lúc trà dư tửu hậu, nếu được bà con thuận tay xướng họa vài câu đáp lại thì càng vui lắm vậy.
Nhân dịp mừng xuân năm con chó ( mậu tuất ) Bác Hà Sĩ Phu có 6 vế xuất, Lu Hà xin ứng khẩu đối lại sau:
-Hà Sĩ Phu xuất đối 1:
Chú “tham quyền” đánh chú “tham tiền”, hai đứa sinh đôi
sao chẳng xét tình huynh với đệ!
Lu Hà xin đối lại là:
Thằng “ăn bẩn“ sinh thằng “ăn cắp“, cặp bò đỏ nhớp nhúa che chắn bố vì con!
Nhân dịp Tết năm Tân Sửu 2021 xin được vui đối với Bác Hà Sĩ Phu
Hà Sĩ Phu:
Câu 1:
-Chuột tạm rút, hang sâu còn dưới đất, chui bồ, rúc cót, coi chừng lũ chuột rất khôn
-Trâu đang về, ách nặng vẫn trên vai, xỏ mũi, quất roi, yên phận kiếp Trâu thì khổ
Cô Tôn Nữ
Bạch Yến có ra vế đối:
“Bò không ăn cỏ bò ngu“
Xin đối ngay: “Cụ chẳng
đạp bà cụ dốt “
Đối vậy chuẩn chưa? Cô Bạch Yến. Đây là loại tiểu đối. Chữ "đạp" có thể dùng các động từ khác kích dục, nhưng hơi tục, nên không dám dùng .
Ngày 27.3.2006, nhà thơ Tú Sót thanh thản về với tổ tiên có để
lại một vế thách đối:
“ Ông chủ đói cho meo, đầy tớ vẫn vênh vênh vui đầy tớ. Vui đầy tớ, vơ đầy túi,
túi đã đầy vơ vẫn cứ vơ “
Lu Hà xin tạm đối:
“ Miền Nam ham giải phóng, Tớ chủ cứ khăng khăng cua chật bể. Cua chật bể, bê
chật của, của bộ đội bao nhiêu thì đội “
Giai Thoại Về Một Câu Đối Khó Nhất Việt Nam
Tôi vừa mới đọc trên mạng Internet có kể giai thoại giữa nữ sĩ Hồng Hà Đoàn Thị
Điểm và ông Cống Quỳnh mà trong dân gian gọi là Trạng Quỳnh.
Nữ sĩ ra một vế đối mà ngót hai thế kỷ nay, chưa ai đối chỉnh:
“ Da trắng vỗ bì bạch “
Câu
Đối Vịnh Người Chim Bé
Đuôi chuột lòi ra không kẻ đoái
Mu
sò khép kín có người thương
Trai tơ à uỗm chi cu tí
Gái ế xa gần khối cụ vương
24.3.2014 Lu Hà
Xây dựng đảng hư danh bầy tiến sĩ
Hại
quốc dân lưu xú lũ việt gian
Câu đối tặng vợ chồng nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín.
Nợ đã chết ngay đâu, đòi mà chi, trả mà chi, ông cóc chi
Đảng để sống dai mãi, tiền cũng có, bạc cũng có, bà đâu có
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 77
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 75
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 73
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 71
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 69
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 67
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 65
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 63
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 61
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 59
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 57
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 54
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 51
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 47
“Nhân chứng tự dương sai âm đấy
Trong y khoa phương ấy dễ lầm
Bỏ qua quy luật âm dương
Biện câu “cang hại“ giết lầm người đau
Chẳng có thuốc dễ mau chuyển bệnh
Ngẫm câu thừa chế chểnh mà khinh
Lạnh qua nóng lại khuyên mình
Hoặc chờ ngày đến truyền kinh tự lành
Thể theo ý mà nhanh khỏi bệnh
Xét hợp thời mà tính cho ra
Khí cang làm hại người ta
Khí thừa trách cứ nôm na vội vàng
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 45
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 43
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 41
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 38
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 36
“Tổ sư dạy Hiên Kỳ trước hết
Quẻ Bào Hy phải thiệt tỏ tường
Tiều phu hỏi tượng Minh Đường
Là đồ khí hậu chủ chương lẽ gì?
Môn trả lời hai nghì trên dưới
Bức họa này vời vợi thiên tri
Giống như soạn thảo kinh thi
Người kia vật nọ tóm ghi lược đồ
Vẽ mười vòng cùng phô một nhóm
Khí hậu coi từng xóm ứng nhau
Năm ngày một hậu bồ xâu
Rõ ngay ba hậu bắt đầu tính coi
Được một khí sáng soi tỏ dạng
Hai khí thành một tháng kể ra
Đất trời vận chuyển bao la
Giáp mười hai tháng ấy là một niên
Một năm tự thiên nhiên riêng biệt
Có bốn mùa nhất thiết tạo nên
Hai mươi bốn tiết theo liền
Xây hai chục tám sao biên sách trời
Ba mươi sáu cung thời xuân đến
Đều nhịp nhàng sinh biến xoay vần
Mỗi năm khí hậu tần ngần
Mười vòng lớn nhỏ bần thần thủy chung
Bởi việc đời tận cùng bác vật
Mười vòng xoay trời đất một hồ
Lặng lòng coi bức thư đồ
Ba ngàn thế giới nhấp nhô thấy bờ
Tuyệt tác thay hoang xơ cây cỏ
Sách châm kim lại có ba hình
Mỗi khi thập tử nhất sinh
Cao minh y thuật gọi Minh Đường đồ
Hình nằm sấp để đo kinh túc
Huyệt dò tìm thành thục sau lưng
Thái dương chớ có lừng khừng
Một hình nằm ngửa coi chừng Dương minh
Còn hình ngồi đinh ninh một mé
Túc thiếu dương rành rẽ hai bên
Ba hình lập được một nền
Ba trăm sáu chục năm tên tuyệt vời
Coi kinh lạc tới nơi tới chốn
Đồ Đường minh đủ trọn độ trời
Một niên thủ túc ai ơi
Ba âm liền với ngoài thời ba dương
Mười hai kinh chia đường mấy lớp
Có sau du sáu hợp thường châm
Người nào đau đớn kinh âm
Huyệt du chọc đúng thoát mầm tai ương
Tam tiêu, mật, huyệt thường bọng đái
Dạ dày kia với lại ruột gìa
Ruột non gan thận trau tria
Kinh dương thoát hiểm bên rìa rừng hoang“
Đức Phật dạy rằng:
-“Trong tấm thân một trượng nầy, chứa cả Tam Thiên Đại
Thiên thế giới”.
Trong một con người
của mỗi chúng ta, chứa cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới nghĩa là: Ba ngàn “Đại
Thiên thế giới”. Dùng từ nầy hàm ý một con số, về số lượng thế giới rất là rộng
lớn vậy. Theo kinh điển diễn tả số lượng thế giới trong vũ trụ nầy vô lượng vô
biên.
Có rất nhiều thế giới vây quanh mặt trời, tạo thành một Hệ
Mặt Trời;
Có nhiều Hệ Mặt Trời, tạo nên Tiểu Thế Giới;
Có rất nhiều Tiểu
Thế Giới, hợp thành Trung Thế Giới;
Có nhiều Trung Thế Giới, tạo thành Đại Thế Giới…
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 37
“Kinh sáu phủ thênh thang ta đếm
Bảy mươi hai huyệt chiếm tay chân
Kinh âm năm tạng từng phần
Sáu mươi lỗ huyệt cao nhân chia đều
Sáu đối sáu sách nêu trên hết
Thành thơ ca rõ thiệt âm dương
Mười hai huyệt đạo tỏ tường
Sáu bài khí huyết vẫn thường viết ra
Phép châm cứu người ta ca ngợi
Mười tám bài vời vợi sáng thông
Huyệt kinh phải đọc thuộc lòng
Dương kinh lục phủ xuôi dòng vinh du
Tiều thán phục thiên thu vạn đại
Ngư đồng tình phải trái phân minh
Mười hai kinh nguyệt thuận tình
Hơi dồn máu chạy nhân sinh muôn loài
Luận khí huyết sáu bài hoan lạc
Môn khen hay chẳng khác thánh ca
Mỗi câu mỗi huyệt xem ra
Bắt đầu từ phế chạy qua đại trường
Xung phủ đến thiếu dương biết trước
Mối theo đường hung ức ngón tay
Thương dương cũng đến chỗ này
Chạy lên trước mũi tên bày nghênh hương
Khấp tủa xuống dưới đường ấn bạch
Vị với tỳ tới nhánh ngón chân
Lệ đoài xin chớ tần
ngần
Ai hay vú tả rào phần đại bao
Ao tiểu trường vào ba tâm chủ
Huyệt cực tuyền tột chỗ da xương
Hữu ra ngón út đầu đường
Thiếu xung thiếu trạch tả thông trong ngoài
Phần thính cung ở tai bên tả
Dài chí âm mới hạ bài tư
Tình minh gốc mũi như từ
Giữa bàn chân giữa xem như dũng tuyền
Đến du phủ tả biên phủ huyệt
Chiều trung xung khẩn thiết thiên trì
Quan xung ngón cái đen sì
Trúc ty huyệt ấy như di chặng này
Y thuật cao can vầy sáu đảm
Đồng tử ra gò má tả cầm
Ngón chân út rõ khiếu âm
Thẳng bên vú hữu âm thầm kỳ môn
Vòng khí huyết đóng đồn răm rắp
Mười hai kinh lạc khắp ngày đêm
Trong ngoài chuyển vận êm đềm
Rồi nhanh như ngựa hòa mềm xa đi.“
Theo sư phụ Google
giải thích thì Kinh lạc là đường khí huyết vận hành trong cơ thể, đường chính của
nó gọi là kinh, nhánh của nó gọi là lạc, kinh với lạc liên kết đan xen ngang dọc,
liên thông trên dưới trong ngoài, là cái lưới liên lạc toàn thân.
Kinh lạc phân ra hai loại kinh mạch và lạc mạch.Trong kinh
mạch gồm chính kinh và kỳ kinh, chính kinh có mười hai sợi, tả hữu đối xứng, tức
thủ túc tam âm kinh và thủ túc tam dương kinh, gọi chung mười hai kinh mạch, mỗi
kinh thuộc một tạng hoặc một phủ. Kỳ kinh có tám sợi, tức đốc mạch, nhâm mạch,
xung mạch, đái mạch, âm duy mạch, dương duy mạch, âm kiểu mạch, dương kiểu mạch.
Thông thường nhắc đến mười hai kinh mạch và thêm vào hai mạch nhâm đốc gọi
chung mười bốn kinh mạch chính.
Tác dụng sinh lý của kinh lạc là Hành khí huyết, dinh âm
dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết (lưu thông khí huyết, dưỡng âm dương tố chất,
nuôi dưỡng các cơ quan), trong thuộc tạng phủ, ngoài lạc chi khớp, thông trong
đạt ngoài, vận hành khí huyết, liên hệ toàn thân, để duy trì bình thường công
năng sinh lý cơ quan tổ chức cơ thể. Ngũ tạng, lục phủ, tứ chi, ngũ quan, cửu
khiếu, bì nhục cân cốt… của cơ thể, đều phải nhờ liên hệ của kinh lạc với sự dưỡng
nuôi của khí huyết, mới có thể phát huy công năng của nó, đồng thời hỗ tương hiệp
điều thành một chỉnh thể hữu cơ.
Ý nghĩa bệnh lý của kinh lạc
Ở tình huống bệnh lý, kinh lạc có liên quan với sự phát
sinh và truyền biến của bệnh tật. Ngoại tà xâm phạm cơ thể, nếu tác dụng bảo vệ
phần ngoài của khí mất bình thường, bệnh tà sẽ men theo đường kinh lạc mà truyền
vào tạng phủ. Ngược lại, tạng phủ có bệnh, cũng sẽ men theo đường kinh sở thuộc
mà thể hiện những triệu chứng tương ứng đến phía ngoài cơ thể. Nhưng thứ truyền
biến này chỉ có thể là tương đối, có phải truyền biến hay không, còn phải xem
các nhân tố như tính chất mạnh yếu của bệnh tà, chính khí của cơ thể thịnh suy,
trị liệu thích hợp hay không … mà xác định.
Mười hai kinh mạch: thuộc tạng phủ tuần hành phân bố tả hữu
đối xứng, mà còn nối tiếp theo thứ tự nhất định, bắt đầu từ thủ thái âm phế
kinh, theo thứ tự truyền đến túc quyết âm can kinh, rồi lại truyền vào thủ thái
âm phế kinh, tuần hoàn mãi không thôi, biểu thị liên tục như sau: Thủ thái âm
phế kinh - Thủ dương minh đại tràng kinh - Túc dương minh vị kinh - Túc thái âm
tỳ kinh - Thủ thiếu âm tâm kinh - Thủ thái dương tiểu tràng kinh - Túc thái
dương bàng quang kinh - Túc thiếu âm thận kinh - Thủ quyết âm tâm bào kinh - Thủ
thiếu dương tam tiêu kinh - Túc thiếu dương đảm kinh - Túc quyết âm can kinh.
-Ba kinh Âm ở tay: Phế, Tâm, Tâm bào có hướng đi từ trong
ngực ra ngoài ngón tay.
-Ba kinh Dương ở tay: Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu có
hướng đi từ đầu các ngón tay đi vào ngực, mặt.
-Ba kinh Âm ở chân:
Tỳ, Thận, Can có hướng đi từ bàn chân lên tận cùng ổ bụng, ngực.
-Ba kinh Dương ở chân: Vị, Bàng quang, Đởm có hướng từ mặt
xuống, điểm tận cùng là đầu các ngón chân.'
Nhâm mạch: Xuất phát từ môi dưới chạy xuống dưới cằm, cổ,
ngực, bụng, rốn, xuyên qua bộ phận sinh dục, vừa đến hậu môn. Nhâm mạch có tác
dụng tổng quản âm kinh của toàn thân, là Âm kinh chi hải.
Đốc mạch: Xuất phát từ hậu môn, theo xương cùng lên thắt
lưng, lên tiếp theo đường xương sống, lên gáy, lên đỉnh đầu, qua trước trán, xuống
mũi, kết thúc ở môi trên. Đốc mạch có tác dụng tổng quản dương kinh của toàn
thân, là Dương kinh chi hải.
Kinh lạc chủ trị
Mười hai kinh mạch phân bố thuộc vào tạng phủ, âm kinh thuộc
tạng là lý (lạc với phủ), dương kinh thuộc phủ là biểu (lạc với tạng). Hai kinh
biểu lý thông qua lạc mạch nối tiếp thông đồng lẫn nhau. Do đó 2 kinh biểu lý, ở
phương diện sinh lý và bệnh lý đều là liên hệ lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau.
29.4.2020 Lu Hà
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 34
“Hai bảy tuổi tóc dày răng cứng
Ba mươi hai gân vững lạ kỳ
Bốn mươi thì thận mới suy
Tóc răng đã mỏi tới kỳ da thô
Y Đức Hai Họ Mộng Bào
cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 32
“Bầy con buôn chiếm phần lợi lạc
Đám nhà giàu kiếm chác đánh hơi
Đất đai hoàng tộc khắp nơi
Vương tôn công tử ăn chơi điếm đàng