Thứ Hai, 27 tháng 12, 2021

Tiếng Chuông Vọng Chùm 29

 

Mai Nở Bốn Mùa

Cảm hứng thơ Thày Như Nhiên-Thích TánhTuệ

 

Xuân từ vô thủy vô chung

Vần xoay vũ trụ chập chùng biển khơi

Chùa trên đỉnh núi chơi vơi

Bốn mùa tươi tốt mỉm cười hoa mai

Tiếng Chuông Vọng Chùm 28

 

 

Tâm Với Đức

tri ân nữ sĩ Trần Hiền Châu: Chữ Tâm

 

Tâm với đức tuy hai là một

Một chữ tâm là tốt muôn đời

Đời người giông tố xa khơi

Khơi dòng bể khổ trăm nơi nẻo trần

Tiếng Chuông Vọng Chùm 27

 

Hang Sáng Ở Thung Lau

 

Thung Lau một giải kià hang Sáng

Nhũ đá phong trần đẹp sáng choang

Sừng sững con voi thời tối cổ

Tai to mình lớn dát kim vàng

Tiếng Chuông Vọng Chùm 26

 

 

Ai Qua Cửa Phật

 

Tạo hóa ông ơi! thật tuyệt vời

Đường lên Yên Tử vực chơi vơi

Cản ngay lũ qủy từ phương Bắc?

Đức Phật từ bi ở cổng trời...

Tiếng Chuông Vọng Chùm 25

 

Vân Tiêu Độ Trì

 

Mây ửng trời đông khách đến chùa

Vân Tiêu heo hút dưới sương mờ

Trường thành sừng sững chân Yên Tử

Một nắng hai sương gội gió mưa

Tiếng Chuông Vọng Chùm 24

 

 

Tiền Thái Bình Hưng Bảo

 

Thái Bình niên hiệu Đại Cồ Việt

Một cõi giang san thế vững vàng

Muôn thuở sáng soi nền độc lập

Đàn hạc hương lân khắp xóm làng

Tiếng Chuông Vọng Chùm 23

 

Thần Y Nguyễn Minh Không

 

Cần mẫn thiền sư đi hái thuốc

Lòng từ cảm ngộ chúng bi ai

Ngao du hang động tình mây núi

Đại đức linh quang sáng Phật đài

Tiếng Chuông Vọng Chùm 22

 

Ông Rồng Xanh

 

Đồng bào dân tộc gọi rồng xanh

Ông lớn treo ngang vắt vèo cành

Đêm đến thường hay bên tượng Phật

Lim dim cho đến tận tàn canh

Tiếng Chuông Vọng Chùm 21

 

Nhớ Nàng Nguyệt Nga

 

Vằng vặc trăng thu soi lịch sử

Nguyệt Nga muôn thuở với non sông

Cùng anh khởi nghĩa vì dân nước

Sống chết màng chi một mảnh hồng

Tiếng Chuông Vọng Chùm 20

 

Mộ Cổ Dâng Hương

 

Mộ cổ thiền sư rừng trúc lâm

Ở đây hiu hắt cảnh âm thầm

Hạt sương thánh thót cây sung cổ

Chim chóc thường xuyên ghé tới thăm

Tiếng Chuông Vọng Chùm 19

 

Kinh Thành Hoang Phế

 

Đinh- Lê  triều đại ở Hoa Lư

Cổ động sương rơi cả bốn muà

Xào xạc chim muông đàn cá nhảy

Bồi hồi thao thức hạt mưa sa

Tiếng Chuông Vọng Chùm 18

 

Hoa Sơn Tự

 

Hoa Sơn chuà tự đất Hoa Lư

Tầng đá rêu phong phủ nhạt nhoà

Nhũ động ngàn xưa màu cổ đại

Mây vàng bảng lảng gió mưa hoà

Chủ Nhật, 26 tháng 12, 2021

Tiếng Chuông Vọng Chùm 17

 

 

Giọt Lệ Ti Bét

 tặng Thày Thích Như Điển và Thày Thích Nguyên Tạng

 

Con biết phái đoàn tới Mỹ Châu

Hoành Dương Phật Pháp khắp năm Châu

Từ bi trí dũng cho thiên hạ

Đức Phật tiền thân Tất Đạt Đa

Tiếng Chuông Vọng Chùm 16

 

Đền Phủ Đột

 

Tả hữu Thanh Trù đền Phủ Đột

Trốn vào hang núi với Đinh Toàn

Nơi đây hương khói ghi công trạng

Giọt lệ oán hờn mãi chưá chan

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Tiếng Chuông Vọng Chùm 15

 

Chuông Vọng Hồ Đồng Chương

 

Đồng Chương giáp giới liền ba xã

Phú Lộc Phú Long Kỳ Phú hồ

Có thác Ba Tua đền Liễu Hạnh

Nho Quan tha thiết bóng ai chờ

Tiếng Chuông Vọng Chùm 14

 

Cha Con Như Núi Cùng Non

 

Mẹ kể con nghe chan chưá tình

Nước non sông núi cuả quê mình

Cha thấp con cao nhà có phúc

Cha cao con thấp chẳng công bình

Tiếng Chuông Vọng Chùm 13

 

Ai Qua Cưả Phật

 

Tạo hoá ông ơi! thật tuyệt vời

Đường lên Yên Tử vực chơi vơi

Cản sao lũ quỷ từ phương Bắc?

Đức Phật từ bi ở cổng trời

Tiếng Chuông Vọng Chùm 12

 

Ai Qua Cưả Phật

 

Tạo hoá ông ơi! thật tuyệt vời

Đường lên Yên Tử vực chơi vơi

Cản sao lũ quỷ từ phương Bắc?

Đức Phật từ bi ở cổng trời

Tiếng Chuông Vọng Chùm 11

 Tính Thiện Tâm Thành
chuyển thể thơ Trúc Mai Linh

Nghe sóng dội ba đào lảo đảo
Trách tình người bạc bẽo như vôi
Mấy phen hỏi lại ông trời
Gieo chi cay nghiệt cho đời trái ngang

Thứ Ba, 13 tháng 7, 2021

Tiếng Chuông Vọng Chùm 10

 Tiếng Búa Trong Đêm (1)
Kính dâng Giác Linh HT Thích Từ Mẫn
 
Trong mơ đinh đóng rã rời
Con nghe tiếng búa vinh quy cuộc đời
Âm dương hai ngả xa vời
Thầy  đi về cõi hết rồi tử sinh

Tiếng Chuông Vọng Chùm 9

 
Tết Này Con Vẫn Chưa Về

Hàng năm chuà đón mừng xuân
Mà con vẫn cứ lần khân bộn bề
Phải chăng duyên nghiệp vụng về
Nên chưa dặm nẻo sơn khê tỏ lời

Tiếng Chuông Vọng Chùm 8

 
Sáng Nở Tối Tàn
cảm tác thơ Phạm Minh Tuân: Ngó Đời

Vưà hé nhụy khóc cười lanh lảnh
Giọt nắng vàng lấp lánh mù sương
Cuộc vui ngắn sợi tơ hồng
Nhân gian khép vội tiếng chuông não nề...

Tiếng Chuông Vọng Chùm 7

 Ngày Phật Đản

Tiếng vọng cưả từ bi
Hơn hai ngàn năm trước
Đường trí tuệ hôm nay
Biết ơn ngài đã bước

Tiếng Chuông Vọng Chùm 6

 
Mẹ Ơi!
Kính tặng Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ

Trải bao mưa dập gió vùi
Bọt bèo trôi nổi luân hồi đắng cay
Thuyền đời vượt sóng trần ai
Qua cơn giận dữ thương người trần gian

Tiếng Chuông Vọng Chùm 5

 Hồi Chuông Đầu Xuân
chuyển thể thơ tám chữ cuả Hoa Mai và Trí Giải

Xuân còn mất theo dòng luân chuyển
Xuân lại về rón rén cành mai
Vô thường tan biến từng giây
Trăng tròn rồi khuyết vơi đầy nỉ non

Tiếng Chuông Vọng Chùm 4

Đêm Mưa Hải Ngoại
kính bái giác linh Thày Thích Từ Mãn

Đêm mưa bừng tỉnh giấc mơ
Ngậm ngùi con viết bài thơ tiễn Thày
Âm dương cách biệt xa vời
Thày về Tây Trúc biển trời mênh mông

Tiếng Chuông Vọng Chùm 3

 Cổ Mộc Giưã Đời
tặng nhà văn Trần Kiêm Đoàn

Cổ mộc ngàn năm giưã nuí rừng
Nơi đầu ngọn sóng nước sông hương
Chênh vênh mỏn đá kỳ quan aỉ
Thoang thoảng mùi huơng của bạch tùng

Tiếng Chuông Vọng Chùm 2

 
Chắp Tay Cùng Khấn

Xa nhà mây quện khói bay
Đàn chim nhớ tổ về đây tỏ bầy
Giốc bầu tâm sự vơi đầy
Cuộc đời thứ lữ đắng cay ngậm ngùi

Tiếng Chuông Vọng Chùm 1

 

 

 An Bình Tự Do

cảm tác thơ Hoa Mai: Đêm Giao Thừa

 

Nghe vũ trụ chuyển mình hoàn vũ

Đêm giao thừa sóng vỗ diệu âm

Điệu ru lắng đọng chân tâm

Khúc ca thế giới thăng trầm nỉ non...!

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

Chuyện Dài Vui Câu Đối Từ Trạng Giải Oan Đến Ngày Nay

 

Ngày xưa chuyện kể trạng nguyên Mạc đĩnh Chi đi sứ Tàu có thấy một câu đối trên miệng giếng: "Ngân bình kiên thượng tị " nghĩa là: " Bình bạc mũi trên vai "

 

Xuất xứ câu đối là của một cô gái bán hàng nước thách chàng nho sinh, nếu đối được sẽ chịu làm ái thê. Nhưng chàng không đối được mới nhảy xuống giếng tự tử vì xấu hổ.

Câu Đối Xuân Qúy Tỵ

 

Lu Hà Và Hà Sĩ Phu – Câu đối Mừng Xuân Quý Tỵ


Câu đối 1:

* RẮN độc cuốn vòng hai số Tám, chặn lối nhân quyền!

* RỒNG thiêng bay tạc một chữ Đồng, phá vòng nô lệ! [1]

[1] Kính tặng Lời kêu gọi thực thi Quyền Con người theo Hiến pháp tại Việt Nam với ngót 4 ngàn chữ ký, yêu cầu Quốc hội Việt `Nam hủy bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự về “tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”

Câu Đối Tết Năm Ất Mùi 2015

 

Hà Sĩ Phu Và Lu Hà ( HSP – LH )

 

 

 

Ngày Tết là dịp cùng nhau nhìn lại một năm. Câu đối xin ghi lại một vài ấn tượng khó quên trong năm Giáp Ngọ vừa qua. Ấn tượng thì nhiều nhưng chỉ bày ra hầu bà con đúng 16 câu, bởi con số 16 tự nó cũng là một ấn tượng thật khó quên đối với người dân nước Việt hôm nay. Xin cảm ơn các tư liệu đã bày sẵn ra ngồn ngộn trên các trang mạng, kẻ vụng dại này chỉ lượm ra vài nét để mua vui lúc trà dư tửu hậu, nếu được bà con thuận tay xướng họa vài câu đáp lại thì càng vui lắm vậy.

Câu Đối Năm Mậu Tuất 2018

 

Nhân dịp mừng xuân năm con chó ( mậu tuất ) Bác Hà Sĩ Phu có 6 vế xuất, Lu Hà xin ứng khẩu đối lại sau:

 

-Hà Sĩ Phu xuất đối 1:

Chú “tham quyền” đánh chú “tham tiền”, hai đứa sinh đôi sao chẳng xét tình huynh với đệ!

Lu Hà  xin đối lại là:
Thằng “ăn bẩn“ sinh thằng “ăn cắp“, cặp bò đỏ nhớp nhúa che chắn bố vì con!

Câu Đối Chùm 6

 

Nhân dịp Tết năm Tân Sửu 2021 xin được vui đối với Bác Hà Sĩ Phu

 

Hà Sĩ Phu:

Câu 1:

-Chuột tạm rút, hang sâu còn dưới đất, chui bồ, rúc cót, coi chừng lũ chuột rất khôn

-Trâu đang về, ách nặng vẫn trên vai, xỏ mũi, quất roi, yên phận kiếp Trâu thì  khổ

Câu Đối Chùm Số 5

 

Cô Tôn Nữ Bạch Yến có ra vế đối:

“Bò không ăn cỏ bò ngu“

Xin đối ngay:
Cụ chẳng đạp bà cụ dốt

 

Đối vậy chuẩn chưa? Cô Bạch Yến. Đây là loại tiểu đối. Chữ "đạp" có thể dùng các động từ khác kích dục, nhưng hơi tục, nên không dám dùng .

Câu Đối Chùm 4

 

Ngày 27.3.2006, nhà thơ Tú Sót thanh thản về với tổ tiên có để lại một vế thách đối:

“ Ông chủ đói cho meo, đầy tớ vẫn vênh vênh vui đầy tớ. Vui đầy tớ, vơ đầy túi, túi đã đầy vơ vẫn cứ vơ “

 

Lu Hà xin tạm đối:

“ Miền Nam ham giải phóng, Tớ chủ cứ khăng khăng cua chật bể. Cua chật bể, bê chật của, của bộ đội bao nhiêu thì đội “

Câu Đối Chùm 3

 


Giai Thoại Về Một Câu Đối Khó Nhất Việt Nam

Tôi vừa mới đọc trên mạng Internet có kể giai thoại giữa nữ sĩ Hồng Hà Đoàn Thị Điểm và ông Cống Quỳnh mà trong dân gian gọi là Trạng Quỳnh.

Nữ sĩ ra một vế đối mà ngót hai thế kỷ nay, chưa ai đối chỉnh:

 

“ Da trắng vỗ bì bạch “

Câu Đối Chùm 2

 

Câu Đối Vịnh Người Chim Bé

Đuôi chuột lòi ra không kẻ đoái

Mu sò khép kín có người thương
Trai tơ à uỗm chi cu tí
Gái ế xa gần khối cụ vương

24.3.2014 Lu Hà

Câu Đối Chùm 1

 

Xây dựng đảng hư danh bầy tiến sĩ

Hại quốc dân lưu xú lũ việt gian



Câu đối tặng vợ chồng nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín.

 

Nợ đã chết ngay đâu, đòi mà chi, trả mà chi, ông cóc chi

Đảng để sống dai mãi, tiền cũng có, bạc cũng có, bà đâu có

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2021

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 229

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 77

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 228

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 75

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 227

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 73

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 226

 

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 71

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 225

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 69

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 224

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 67

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 223

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 65

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 222

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 63

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 221

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 61

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 220

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 59

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 219


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 57

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 218

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 54

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 217

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 51

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 216

 

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 47

 

“Nhân chứng tự dương sai âm đấy

Trong y khoa phương ấy dễ lầm

Bỏ qua quy luật âm dương

Biện câu “cang hại“ giết lầm người đau

 

Chẳng có thuốc dễ mau chuyển bệnh

Ngẫm câu thừa chế chểnh mà khinh

Lạnh qua nóng lại khuyên mình

Hoặc chờ ngày đến truyền kinh tự lành

 

Thể theo ý mà nhanh khỏi bệnh

Xét hợp thời mà tính cho ra

Khí cang làm hại người ta

Khí thừa trách cứ nôm na vội vàng

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 215

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 45

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 214

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 43

 

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 213

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 41

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 212

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 38

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 211

 


Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 36

 

“Tổ sư dạy Hiên Kỳ trước hết

Quẻ Bào Hy phải thiệt tỏ tường

Tiều phu hỏi tượng Minh Đường

Là đồ khí hậu chủ chương lẽ gì?

 

Môn trả lời hai nghì trên dưới

Bức họa này vời vợi thiên tri

Giống như soạn thảo kinh thi

Người kia vật nọ tóm ghi lược đồ

 

Vẽ mười vòng cùng phô một nhóm

Khí hậu coi từng xóm ứng nhau

Năm ngày một hậu bồ xâu

Rõ ngay ba hậu bắt đầu tính coi

 

Được một khí sáng soi tỏ dạng

Hai khí thành một tháng kể ra

Đất trời vận chuyển bao la

Giáp mười hai tháng ấy là một niên

 

Một năm tự thiên nhiên riêng biệt

Có bốn mùa nhất thiết tạo nên

Hai mươi bốn tiết theo liền

Xây hai chục tám sao biên sách trời

 

Ba mươi sáu cung thời xuân đến

Đều nhịp nhàng sinh biến xoay vần

Mỗi năm khí hậu tần ngần

Mười vòng lớn nhỏ bần thần thủy chung

 

Bởi việc đời tận cùng bác vật

Mười vòng xoay trời đất một hồ

Lặng lòng coi bức thư đồ

Ba ngàn thế giới nhấp nhô thấy bờ

 

Tuyệt tác thay hoang xơ cây cỏ

Sách châm kim lại có ba hình

Mỗi khi thập tử nhất sinh

Cao minh y thuật gọi Minh Đường đồ

 

Hình nằm sấp để đo kinh túc

Huyệt dò tìm thành thục sau lưng

Thái dương chớ có lừng khừng

Một hình nằm ngửa coi chừng Dương minh

 

Còn hình ngồi đinh ninh một mé

Túc thiếu dương rành rẽ hai bên

Ba hình lập được một nền

Ba trăm sáu chục năm tên tuyệt vời

 

Coi kinh lạc tới nơi tới chốn

Đồ Đường minh đủ trọn độ trời

Một niên thủ túc ai ơi

Ba âm liền với ngoài thời ba dương

 

Mười hai kinh chia đường mấy lớp

Có sau du sáu hợp thường châm

Người nào đau đớn kinh âm

Huyệt du chọc đúng thoát mầm tai ương

 

Tam tiêu, mật, huyệt thường bọng đái

Dạ dày kia với lại ruột gìa

Ruột non gan thận trau tria

Kinh dương thoát hiểm bên rìa rừng hoang“

 

 

Đức Phật dạy rằng:

-“Trong tấm thân một trượng nầy, chứa cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới”.

 

 Trong một con người của mỗi chúng ta, chứa cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới nghĩa là: Ba ngàn “Đại Thiên thế giới”. Dùng từ nầy hàm ý một con số, về số lượng thế giới rất là rộng lớn vậy. Theo kinh điển diễn tả số lượng thế giới trong vũ trụ nầy vô lượng vô biên.

Có rất nhiều thế giới vây quanh mặt trời, tạo thành một Hệ Mặt Trời;

Có nhiều Hệ Mặt Trời, tạo nên Tiểu Thế Giới;

 Có rất nhiều Tiểu Thế Giới, hợp thành Trung Thế Giới;

Có nhiều Trung Thế Giới, tạo thành Đại Thế Giới…

 

 

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 37

 

“Kinh sáu phủ thênh thang ta đếm

Bảy mươi hai huyệt chiếm tay chân

Kinh âm năm tạng từng phần

Sáu mươi lỗ huyệt cao nhân chia đều

 

Sáu đối sáu sách nêu trên hết

Thành thơ ca rõ thiệt âm dương

Mười hai huyệt đạo tỏ tường

Sáu bài khí huyết vẫn thường viết ra

 

Phép châm cứu người ta ca ngợi

Mười tám bài vời vợi sáng thông

Huyệt kinh phải đọc thuộc lòng

Dương kinh lục phủ xuôi dòng vinh du

 

Tiều thán phục thiên thu vạn đại

Ngư đồng tình phải trái phân minh

Mười hai kinh nguyệt thuận tình

Hơi dồn máu chạy nhân sinh muôn loài

 

Luận khí huyết sáu bài hoan lạc

Môn khen hay chẳng khác thánh ca

Mỗi câu mỗi huyệt xem ra

Bắt đầu từ phế chạy qua đại trường

 

Xung phủ đến thiếu dương biết trước

Mối theo đường hung ức ngón tay

Thương dương cũng đến chỗ này

Chạy lên trước mũi tên bày nghênh hương

 

Khấp tủa xuống dưới đường ấn bạch

Vị với tỳ tới nhánh ngón chân

Lệ đoài  xin chớ tần ngần

Ai hay vú tả rào phần đại bao

 

Ao tiểu trường vào ba tâm chủ

Huyệt cực tuyền tột chỗ da xương

Hữu ra ngón út đầu đường

Thiếu xung thiếu trạch tả thông trong ngoài

 

Phần thính cung ở tai bên tả

Dài chí âm mới hạ bài tư

Tình minh gốc mũi như từ

Giữa bàn chân giữa xem như dũng tuyền

 

Đến du phủ tả biên phủ huyệt

Chiều trung xung khẩn thiết thiên trì

Quan xung ngón cái đen sì

Trúc ty huyệt ấy như di chặng này

 

Y thuật cao can vầy sáu đảm

Đồng tử ra gò má tả cầm

Ngón chân út rõ khiếu âm

Thẳng bên vú hữu âm thầm kỳ môn

 

Vòng khí huyết đóng đồn răm rắp

Mười hai kinh lạc khắp ngày đêm

Trong ngoài chuyển vận êm đềm

Rồi nhanh như ngựa hòa mềm xa đi.“

 

 Theo sư phụ Google giải thích thì Kinh lạc là đường khí huyết vận hành trong cơ thể, đường chính của nó gọi là kinh, nhánh của nó gọi là lạc, kinh với lạc liên kết đan xen ngang dọc, liên thông trên dưới trong ngoài, là cái lưới liên lạc toàn thân.

 

Kinh lạc phân ra hai loại kinh mạch và lạc mạch.Trong kinh mạch gồm chính kinh và kỳ kinh, chính kinh có mười hai sợi, tả hữu đối xứng, tức thủ túc tam âm kinh và thủ túc tam dương kinh, gọi chung mười hai kinh mạch, mỗi kinh thuộc một tạng hoặc một phủ. Kỳ kinh có tám sợi, tức đốc mạch, nhâm mạch, xung mạch, đái mạch, âm duy mạch, dương duy mạch, âm kiểu mạch, dương kiểu mạch. Thông thường nhắc đến mười hai kinh mạch và thêm vào hai mạch nhâm đốc gọi chung mười bốn kinh mạch chính.

 

Tác dụng sinh lý của kinh lạc là Hành khí huyết, dinh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết (lưu thông khí huyết, dưỡng âm dương tố chất, nuôi dưỡng các cơ quan), trong thuộc tạng phủ, ngoài lạc chi khớp, thông trong đạt ngoài, vận hành khí huyết, liên hệ toàn thân, để duy trì bình thường công năng sinh lý cơ quan tổ chức cơ thể. Ngũ tạng, lục phủ, tứ chi, ngũ quan, cửu khiếu, bì nhục cân cốt… của cơ thể, đều phải nhờ liên hệ của kinh lạc với sự dưỡng nuôi của khí huyết, mới có thể phát huy công năng của nó, đồng thời hỗ tương hiệp điều thành một chỉnh thể hữu cơ.

Ý nghĩa bệnh lý của kinh lạc

 

Ở tình huống bệnh lý, kinh lạc có liên quan với sự phát sinh và truyền biến của bệnh tật. Ngoại tà xâm phạm cơ thể, nếu tác dụng bảo vệ phần ngoài của khí mất bình thường, bệnh tà sẽ men theo đường kinh lạc mà truyền vào tạng phủ. Ngược lại, tạng phủ có bệnh, cũng sẽ men theo đường kinh sở thuộc mà thể hiện những triệu chứng tương ứng đến phía ngoài cơ thể. Nhưng thứ truyền biến này chỉ có thể là tương đối, có phải truyền biến hay không, còn phải xem các nhân tố như tính chất mạnh yếu của bệnh tà, chính khí của cơ thể thịnh suy, trị liệu thích hợp hay không … mà xác định.

 

Mười hai kinh mạch: thuộc tạng phủ tuần hành phân bố tả hữu đối xứng, mà còn nối tiếp theo thứ tự nhất định, bắt đầu từ thủ thái âm phế kinh, theo thứ tự truyền đến túc quyết âm can kinh, rồi lại truyền vào thủ thái âm phế kinh, tuần hoàn mãi không thôi, biểu thị liên tục như sau: Thủ thái âm phế kinh - Thủ dương minh đại tràng kinh - Túc dương minh vị kinh - Túc thái âm tỳ kinh - Thủ thiếu âm tâm kinh - Thủ thái dương tiểu tràng kinh - Túc thái dương bàng quang kinh - Túc thiếu âm thận kinh - Thủ quyết âm tâm bào kinh - Thủ thiếu dương tam tiêu kinh - Túc thiếu dương đảm kinh - Túc quyết âm can kinh.

 

-Ba kinh Âm ở tay: Phế, Tâm, Tâm bào có hướng đi từ trong ngực ra ngoài ngón tay.

-Ba kinh Dương ở tay: Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu có hướng đi từ đầu các ngón tay đi vào ngực, mặt.

 -Ba kinh Âm ở chân: Tỳ, Thận, Can có hướng đi từ bàn chân lên tận cùng ổ bụng, ngực.

-Ba kinh Dương ở chân: Vị, Bàng quang, Đởm có hướng từ mặt xuống, điểm tận cùng là đầu các ngón chân.'

 

Nhâm mạch: Xuất phát từ môi dưới chạy xuống dưới cằm, cổ, ngực, bụng, rốn, xuyên qua bộ phận sinh dục, vừa đến hậu môn. Nhâm mạch có tác dụng tổng quản âm kinh của toàn thân, là Âm kinh chi hải.

 

Đốc mạch: Xuất phát từ hậu môn, theo xương cùng lên thắt lưng, lên tiếp theo đường xương sống, lên gáy, lên đỉnh đầu, qua trước trán, xuống mũi, kết thúc ở môi trên. Đốc mạch có tác dụng tổng quản dương kinh của toàn thân, là Dương kinh chi hải.

Kinh lạc chủ trị

Mười hai kinh mạch phân bố thuộc vào tạng phủ, âm kinh thuộc tạng là lý (lạc với phủ), dương kinh thuộc phủ là biểu (lạc với tạng). Hai kinh biểu lý thông qua lạc mạch nối tiếp thông đồng lẫn nhau. Do đó 2 kinh biểu lý, ở phương diện sinh lý và bệnh lý đều là liên hệ lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau.

 

29.4.2020 Lu Hà

 

 

 

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2021

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 210

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 34

 

“Hai bảy tuổi tóc dày răng cứng

Ba mươi hai gân vững lạ kỳ

Bốn mươi thì thận mới suy

Tóc răng đã mỏi tới kỳ da thô

Bình Giảng Thơ Lu Hà Do Thu Hà Diễn Ngâm Phần 209

 

Y Đức Hai Họ Mộng Bào

cảm xúc thơ Nguyễn Đình Chiểu bài 32

 

“Bầy con buôn chiếm phần lợi lạc

Đám nhà giàu kiếm chác đánh hơi

Đất đai hoàng tộc khắp nơi

Vương tôn công tử ăn chơi điếm đàng